Ken harmonica

Các loại kèn harmonica

Đang viết… Cố gắng cập nhật lại chứ không copy các bài cũ.

Trước tiên, người viết không chắc là mình biết có bao nhiêu loại kèn harmonica, chỉ biết là có… nhiều loại

Người ta thường phân loại kèn theo số lỗ, lỗ đơn hay kép, số lưỡi gà trong mỗi lỗ, tính chất thổi-hút của mỗi lưỡi gà, số lưỡi gà cùng phát âm một lúc ở mỗi lỗ (còn gọi là lưỡi gà đơn hay lưỡi gà kép), tính diatonic-chromatic, cơ cấu thay đổi nốt chromatic, tầm vực âm thanh, cách sắp xếp các nốt (cấu tạo nốt), kèn đơn hay kép (kép hai hay kép ba,…), giọng kèn, trưởng hay thứ, số lượng tấm đế lưỡi gà, thương mại (bán sẵn) hay độ (tự chỉnh sửa),… Mình liệt kê ra đây chỉ để muốn nói rằng riêng số lượng tiêu chí để phân loại kèn đã khá phức tạp rồi, chưa nói đến số  loại
 Tuy nhiên, các tiêu chí này, càng cụ thể càng tốt, sẽ giúp các bạn ít nhầm lẫn khi mua kèn.

Mục đích của bài này là chỉ đề cập đến các loại kèn thông dụng nhất và nghe nói là có mặt ở Việt Nam, và để phục vụ cho người bắt đầu làm quen kèn.

Về kỹ thuật chơi căn bản thì các kèn tương đối giống nhau, chỉ có khác nhiều là ở số lỗ, cách bố trí nốt và giọng kèn. Nếu các bạn nắm được cách bố trí nốt, bổ sung thêm kiểu tập kèn trước gương với nhãn nốt viết ngược thì có thể tự lực học tập được, không bị bị động nếu như học thổi theo tab số.

1. Loại diatonic: gồm tremolo, Blues và kèn 12 lỗ:

1.1. Kèn tremolo 24 lỗ kiểu châu Á giọng C:

1.1.1. Tính phổ biến: phổ biến ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.



1.1.2. Model và hãng sản xuất phổ biến: hiện nay chủ yếu là của hãng Suzuki (Nhật Bản), với các model Winner (rẻ) và Study (đắt hơn một chút nhưng chấp nhận được với đa số người chơi), trước đây thì chủ yếu của nhiều hãng của Trung Quốc như Hải Diêm Đông Phương khẩu cầm xưởng với nhãn hiệu Haibei (Hải Bối, nghe tiếng nó như thế này), Quốc doanh Dương Châu Trường Giang khẩu cầm xưởng với nhãn hiệu Thiên Nga,…

1.1.3. Số lỗ: 24 lỗ kép, mỗi lỗ kép gồm 2 lỗ đơn xếp chồng lên nhau trên-dưới.

1.1.4. Hiệu ứng âm giữa 2 lỗ đơn của 1 lỗ kép: tremolo.

1.1.5. Số lưỡi gà trong mỗi lỗ đơn: 1.

1.1.6. Tính chất thổi-hút: lỗ kép mang số thứ tự lẻ thì thổi, chẵn thì hút.

1.1.7. Số lưỡi gà phát âm một lúc ở mỗi lỗ kép: 2 (tuy nhiên người chơi có thể chọn chỉ chơi một lỗ đơn để chỉ 1 lưỡi gà phát âm).

1.1.8. Tính diatonic/ chromatic: chủ yếu là diatonic, tuy nhiên có thể chơi kiểu chromatic nếu dùng kỹ thuật dip bend lưỡi gà đơn chỉ ở một lỗ đơn hoặc dip bend lưỡi gà kép ở hai lỗ đơn thổi và hút kề nhau.

1.1.9. Tầm âm: từ nốt G3 đến nốt E7.

1.1.10. Cách sắp xếp các nốt: từ trái sang phải: các lỗ lẻ: 3 nốt G, C, E tuần hoàn tăng dần cao độ không đổi cho đến hết kèn (G3, C4, E4, G4, C5, E5, G5,…); các lỗ chẵn: 4 nốt D, F, A, B tuần hoàn tăng dần cao độ không đổi cho đến hết kèn (D4, F4, A4, B4, D5, F5, A5, B5,…). Mình gọi đây là cách bố trí nốt kiểu châu Á, thường thấy ở các kèn của Nhật Bản và Trung Quốc.

1.1.11. Giọng kèn: C (Đô trưởng) (nhưng có thể chơi được giọng tương đối với C trưởng là A (La) thứ. Thường khi nói đến giọng của kèn thì người ta chỉ nói nốt chủ âm là gì, không cần nói trưởng thứ nhưng vẫn hiểu ngầm là nốt chủ âm của giọng trưởng).

1.1.12. Số tấm đế lưỡi gà: 2.



1.2. Kèn Blues giọng C:
Kèn Blues Easy Rider của Suzuki, cùi mà không cùi, lởm mà không lởm

1.2.1. Tính phổ biến: phổ biến ở các nước Âu-Mĩ.

1.2.2. Model và hãng sản xuất phổ biến: hãng phổ biến nhất có lẽ vẫn là Suzuki, với các model xếp theo giá tiền tăng dần là Easy Rider (tiếng nó như thế này), Folk Master,… tuy nhiên danh tiếng nhất vẫn là hãng Hohner với các model từ rẻ đến đắt là Happy Color Harp, Blues Band, Silver Star,…

1.2.3. Số lỗ: 10 lỗ

Số lưỡi gà trong mỗi lỗ: 2.

1.2.5. Tính chất thổi-hút: trong mỗi lỗ, 1 lưỡi gà thổi và 1 lưỡi gà hút.

1.2.6. Số lưỡi gà phát âm cùng lúc ở mỗi lỗ: 1.

1.2.7. Tính chromatic: không hoàn toàn nhưng dễ hơn kèn tremolo, chủ yếu cũng nhờ (dip) bend lưỡi gà kép. Tuy nhiên số nốt dip bend được thì không phong phú bằng.

1.2.8. Tầm âm: từ nốt C4 đến nốt C7.

1.2.9. Bố trí nốt: kiểu Richter, sẽ nói cụ thể ở một bài khác.

1.2.10. Giọng kèn: C.

1.2.11. Số tấm đế lưỡi gà: 2.

1.3. Kèn diatonic 12 lỗ:
Marine Band Soloist 12 lỗ của Hohner, cái gai của dân chơi harmonica Việt



1.3.1. Tính phổ biến: Xin các bạn đừng nhầm với cây kèn chromatic 12 lỗ  Trước đây, nhiều bài viết tiếng Việt cho rằng cây này chưa có bán ở Việt Nam, nhưng nay thì ít ra trên website của doremishop đã có rao cây này, tuy giá vẫn còn khá cao, chưa thể là nhạc cụ phổ thông được.

1.3.2. Model và hãng sản xuất: hãng Hohner (Đức), model Marine Band 364 Soloist.

1.3.3. Số lỗ: 12 lỗ đơn.

1.3.4. Số lưỡi gà trong mỗi lỗ đơn: 2.

1.3.5. Tính chất thổi-hút: trong mỗi lỗ đơn có 1 lưỡi gà thổi, 1 lưỡi gà hút.

1.3.6. Tính chromatic: không biết, có thể tương tự cây Blues.

1.3.7. Số lưỡi gà phát âm cùng một lúc ở mỗi lỗ đơn: 1.

1.3.8. Tầm âm: có lẽ từ C4 đến C6.

1.3.9. Cách sắp xếp nốt: kiểu Soloist. Đây là kiểu bố trí nốt mà được nhiều người chơi harmonica Blues Việt Nam thèm khát vì không những số nốt của kèn nhiều hơn, nó còn có đầy đủ các nốt F và A ở quãng tám thấp của nó, không cần phải độ hoặc (dip) bend. Giá cao với cách bố trí nốt đáng thèm khát, đó là sự trớ trêu của cuộc đời 🙂

1.3.10. Giọng kèn: C.

1.3.11. Số tấm đế lưỡi gà: 2.

2. Loại chromatic:

Kèn “chromatic dáng tremolo Tàu” giọng C:

2.1. Tính phổ biến: có lẽ phổ biến nhiều ở châu Á, trong tầng lớp trung lưu và hạ lưu do giá rẻ

2.2. Các model và hãng sản xuất phổ biến: có lẽ là hãng Thượng Hải khẩu cầm tổng xưởng với cây Thượng Hải bán âm giai khẩu cầm, và một số cây mà người viết không biết hãng như cây Tower (Cái tháp),…

2.3. Số lỗ: 24 lỗ đơn (thực ra lỗ đơn ở đây là lỗ mà tiếp xúc với miệng người chơi, còn thực chất bên trong là nó có 24 lỗ kép).

2.4. Số lưỡi gà trong mỗi lỗ đơn: 1.

2.5. Tính chất thổi-hút: lỗ đơn mang số thứ tự lẻ thì thổi, chẵn thì hút.

2.6. Số lưỡi gà phát âm cùng một lúc ở mỗi lỗ đơn: 1.

2.7. Tính chromatic: đầy đủ.

2.8. Cơ cấu thay đổi nốt chromatic: van tấm trượt (còn gọi là có cần bấm).

2.9. Tầm âm: từ nốt C4 đến nốt C7#.

2.10. Cách sắp xếp nốt: ở mỗi tư thế cần bấm: kiểu Soloist (sẽ nói ở một bài khác); ở mỗi lỗ đơn khi bấm cần: nốt thăng